Viên ngọc của âm nhạc điện tử hiện đại đến từ Pháp – Madeon, gần đây đã có chia sẻ về quá trình làm album thứ hai của anh – Good Faith.

Được sinh ra tại thành phố Nantes của Pháp, niềm đam mê học hỏi của Hugo Leclercq đã đưa anh ấy đến với sản xuất âm nhạc.

Ở tuổi 16, anh ấy đã tự mua một chiếc Novation Launchpad và trong vài giờ đồng hồ đã tạo ra được Pop Culture – một bài mashup dài 3 phút, bao gồm 39 bản nhạc và đã đạt được 50 triệu view trên Youtube kể từ khi được xuất bản năm 2011. Video đó đã đưa Leclercq – hay còn được biết với nghệ danh Madeon – ra ngoài công chúng, cùng với EP đầu tiên “The City” ra mắt năm 2012.

Được ảnh hưởng bởi dòng nhạc French House và electropop, Leclercq bỏ ra 3 năm tiếp theo hoàn thiện album đầu tay của mình “Adventure” tại tầng hầm của nhà bố mẹ, bắt đầu một sự nghiệp sản xuất âm nhạc chuyên nghiệp mà đã đưa anh đến làm việc cùng với các nghệ sĩ như Ellie Goulding, Coldplay, Lady Gaga.

Sau tour diễn Live của chính mình và tham gia hàng loạt các lễ hội âm nhạc, Leclercq chuyển đến Los Angeles và tự xây cho mình một studio trong nhà, nơi anh sáng tác album thứ hai “Good Faith”.

Hãy kể lại cho chúng tôi về video Youtube “Pop Culture” mà anh làm bằng Novation Launchpad. Sự thành công của video đó đã ảnh hưởng anh như thế nào?

“Nó đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi, đó là những gì tôi hằng hy vọng. Tôi làm nó hồi 16 tuổi, cái ngày mà tôi mua cái launchpad, tôi quay nó bằng iPhone của mình và đợi thời điểm thích hợp để đăng nó. Tôi đi nghỉ mát với cha mẹ nhưng lại không có internet ở đó để kiểm tra sự chú ý của cộng đồng mạng với nó như thế nào. Tôi ghé vào một quán cafe ở đó và chưa gì nó đã đạt được triệu view rồi.

Đột nhiên có một luồng gió và tôi đã biết rằng cuộc đời mình sẽ không bao giờ như cũ nữa. Tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi mọi người kết nối được với ý tưởng và cái cách thức biểu diễn của tôi.”

Anh trông có vẻ khá thành thạo với cái launchpad. Trước đó bạn đã quen sử dụng các thiết bị nào tương tự chưa?

“Không, nhưng tôi có nhiều sở thích liên quan đến hai tay của mình. Tôi hay làm ảo thuật và xếp hình nên phong cách cử động của tôi bị ảnh hưởng bởi đó. Tôi không nhớ rõ lắm nhưng tôi đã thử một layout tương tự trên Akai-MPC để thử nghiệm trước, mặc dù Pop Culture không phải là một thứ quá khó để biểu diễn. Tôi cố nâng cao tính thị giác của nó bằng cách làm nổi bật những cử động của tay. Tôi cũng cảm thấy thích thú với cái ý tưởng có thể ứng biến và chỉ rõ rằng có một sự kết nối rõ ràng giữa bộ não của tôi và thứ âm nhạc bạn nghe được bằng thiết bị này.

Anh muốn làm nhạc trước khi để khám phá thêm nhiều dụng cụ hay là do dụng cụ đã thúc đẩy bạn làm âm nhạc?

“Hồi tôi 11 tuổi tôi có xem một phim tài liệu về Daft Punk trên TV. Trong vòng 40 phút tôi đã nghe được vài đoạn của những bài nhạc nổi tiếng của họ và âm thanh họ sử dụng khiến tôi không thể giải thích được. Tôi hiểu rõ rằng nhạc rock được tạo ra như thế nào, vì rõ ràng là phần biểu diễn có đàn guitar. Nhưng tôi không cảm thấy như vậy đối với phần synthesizers và vocoders vì chúng có phần rất lạ lẫm và kỳ diệu.”

Điều đó đã ảnh hưởng đến anh như thế nào về mặt thực tiễn?

“Khi mọi người nhắc đến từ “synthesizer” (một thiết bị tạo ra âm thanh bằng cách thay đổi tín hiệu của chúng), tôi còn không hiểu chúng nghĩa là gì, nên tôi đã tự tìm hiểu nó bằng cách dùng phần mềm để tìm ra chìa khóa đến với chúng. Lúc đầu tôi nghĩ đối với trường hợp của Daft Punk, âm thanh của họ là từ những tiếng động với các hiệu ứng ép lên chúng, vậy nên tôi đã tự hát vào một cái microphone, đưa nó vào Audacity (một phần mềm xử lý âm thanh) và thêm thật nhiều hiệu ứng cho đến khi tôi nghe giống Daft Punk. Nó không hiệu quả cho lắm, nhưng tôi ngay lập tức đã bị cuốn vào ý tưởng xử lý và thiết kế âm thanh.”

Hầu hết mọi người khi nghe nhạc điện tử, họ sẽ không cần biết được là âm thanh đó đã được làm ra như thế nào, vậy điều gì đã kích thích sự tò mò của anh?

“Từ hồi bé tôi đã rất thích bắt chước và sáng tạo. Cứ mỗi khi một tác phẩm nghệ thuật nào làm tôi rung động, tôi sẽ muốn tự tạo ra một phiên bản của mình về chúng. Nếu tôi đọc sách và thấy thích, tôi sẽ thử viết một cuốn sách. Hoặc khi chơi một trò chơi điện tử, tôi sẽ thử tự lập trình chúng trên chiếc máy tính của bố tôi. Tôi muốn có được cảm giác mình tự sở hữu một thứ gì đó và âm nhạc cũng chỉ là một trong những sở thích của tôi.”

Trong vòng một năm sau Pop Culture anh đã ra mắt được EP đầu tiên. Âm thanh của nó có phải được dựa vào những nghệ sĩ đã truyền cảm hứng cho bản mashup kia không?

“Những thứ nhạc tôi tạo ra được dựa bởi những bản nhạc tôi thích nhưng cùng lúc đó cũng dựa vào một phương pháp sản xuất nhất định. Lúc đó tôi đã gặp được Porter Robinson – chúng tôi là bạn và hay trao đổi với nhau qua chat. Chúng tôi còn ganh đua với nhau vì chúng tôi cùng nhau theo đuổi một phong cách nhạc khá là phức tạp, đó là phải cắt nhỏ và tạo phân lớp cho âm thanh.

Hồi đó tôi vẫn chưa quan tâm nhiều lắm đến văn hóa club, tôi không được đi xem một show diễn live hay một DJ nào, nên tôi chỉ có thể phân tích nhạc nhảy như một thành tựu kỹ thuật. Tuy vậy rằng, gu nhạc của tôi khá bị ảnh hưởng nhiều bởi pop nên tôi sẽ thiên về giai điệu, hợp âm và sắp đặt trong âm nhạc của mình.

Một vài người sẽ có thể ngạc nhiên khi biết The Beatles là một trong những nghệ sĩ chính ảnh hưởng đến bạn.

Trong album mới của tôi, có một bài hát thể hiện rõ điều đó. Điều này đúng hơn trong album mới của tôi bởi vì nó sẽ bị ảnh hưởng hơn bởi dòng psychedelic, bộ kèn và đàn bass Rickenbacker, nhưng cảm hứng của không phải lúc nào cũng là từ âm thanh – cũng có thể là do tùy hứng hoặc do ý tưởng muốn làm mới bản thân mình.

Album “Adventure” được thu vào lúc anh đang 21 tuổi, nó đã có chất âm thanh rất được trau chuốt. Có phải anh đã làm việc cùng với những người đồng sáng tác khác của hãng đĩa không?

“Tôi ký với hãng đĩa Columbia vào năm 2012 và họ giao cho tôi toàn quyền sáng tạo. Cho dù tôi đã có hỏi thêm những kinh nghiệm, tôi muốn giữ cho dự án Madeon này thật độc lập. Tôi muốn tự làm tất cả mọi thứ và muốn giữ cảm giác đó, nhưng đồng thời cũng muốn tìm hiểu kỹ hơn về quá trình viết nhạc, nên hãng đã sắp xếp cho tôi một vài buổi hẹn. Một trong những buổi ấn tượng nhất là với Jimmy Napes (nhạc sĩ và producer đến từ Anh). Anh ấy là một thiên tài, thật siêu thú vị khi được nhìn thấy cả quá trình làm nhạc của anh.”

Anh đã học được những gì từ Jimmy?

“Sức nặng và ý nghĩa được thể hiện qua ca từ của anh và cái cách bạn có thể chỉnh sửa và sáng tạo lại giai điệu như một phép tính. Tôi cũng bị ấn tượng vì nghệ thuật sáng tác nhạc có thể thâm thúy đến mức nào. Lúc đầu tôi chỉ nghĩ nó chỉ là câu chữ thôi, có thể phức tạp đến mức nào? Nhưng hóa ra toàn bộ quá trình cũng phức tạp như khía cạnh kỹ thuật sản xuất và từ đó tôi nhận ra rằng âm nhạc luôn đem cho mình sự thỏa mãn vì tôi luôn có thể khuấy động cho cả bộ não và tâm hồn mình một cách sáng tạo.

Sau đó, tôi đã đồng sáng tác với những ca sĩ hát bài hát của riêng họ, như Passion Pit và các nghệ sĩ ở Columbia khác mà tôi yêu mến – tôi cảm thấy như đang đi thực tập vậy. Tôi đã dành rất nhiều thời gian với các nghệ sĩ khác như Lady Gaga, các nhạc sĩ khác và viết ra tất cả các mánh khóe của họ. Ngay cả khi chúng tôi không viết ra được một bài nhạc hay vào ngày hôm đó, sẽ luôn có một bản nhạc làm chúng tôi vừa lòng.”

Anh tiếp thu được những gì trong buổi viết nhạc với Lady Gaga?

“Lady Gaga thực sự là một người bí ẩn và cô ấy là một thiên tài thực thụ. Gaga có thể viết ra bản nhạc bằng cách hát ý tưởng đầu tiên xuất hiện trong đầu và tạo ra được những giai điệu tuyệt vời một cách dễ dàng, thật tuyệt vời nhưng cũng không thể giải thích được.

Tôi nghĩ tôi đã nhận thức được một bài học – một không phải là một cỗ máy giải quyết vấn đề. Bạn là một con người, nếu bạn cho phép bản thân mình thoải mái trong việc viết nhạc, bạn sẽ cảm thấy chân thành hơn.”

Liệu đó có phải là cách mà anh đã tiếp cận đến album mới “Good Faith”?

Điểm bắt đầu chính ra phải là từ “Shelter” – bài mà tôi đã làm với Porter Robinson. Đó là lần đầu tiên mà tôi ra mắt một bài hát mà chính tôi viết lời và tự hát. Xét về khoản này, tôi cũng đã thử sức ở album đầu tiên nhưng lần này là một bản nhạc pop thiệt sự. Tôi đã từng lo lắng bởi vì tôi làm mà không có sự giúp đỡ của nhà sáng tác nhạc chuyên nghiệp nào cả, mà cuối cùng nó lại thành ca khúc thành công nhất của tôi từ trước đến nay. Sau đó, rõ ràng là tôi sẽ muốn tiếp tục hoàn thành công việc đó, vì vậy, tôi đã tự tin về việc tự mình làm album thứ hai và thực sự định nghĩa Madeon là gì.”

Anh nói đến Madeon như thể là một danh từ khác vậy. Liệu anh ấy có tách biệt với Hugo?

“Tôi luôn tự hỏi mình, mình thích trở thành Madeon như thế nào, mình tự hào và nó ngầu như thế nào? Mỗi lần như vậy, tôi cảm thấy như mình là một phiên bản tiến bộ hơn của Madeon. Khi tôi mới bắt đầu việc đi tour, tôi chỉ biểu diễn DJ Set, nó rất thú vị lúc đầu nhưng tôi nhận ra rằng chỉ chơi những bản nhạc của nghệ sĩ khác thì sẽ không làm tôi thỏa mãn – đó sẽ không phải những gì mà Daft Punk sẽ làm! Nó như là một bước phát triển hơn là một mục tiêu, nên tôi cố gắng định hình lại Madeon hơn bằng cách chơi những live show, viết nhạc và ra album.

Vậy điều đó có làm anh áp lực hơn, được kỳ vọng cao hơn và anh sợ nó hay nghĩ mình phải nắm lấy nó?

“Định nghĩa về thành công của tôi rất rõ ràng. Tôi muốn cảm thấy hào hứng khi được trở thành Madeon, đó là tất cả để làm nên sự chân thành cho dự án này.

Một điều khác nữa là tôi muốn trở thành một nghệ sĩ đáng để được hâm mộ. Tôi muốn đầu tư về mặt nội dung, bối cảnh để âm nhạc của tôi không chỉ được tiêu thụ một cách thụ động mà còn thúc đẩy một cộng đồng những người siêu hâm mộ mà quan tâm đến tác phẩm. Tôi vẫn luôn bị phát cuồng bởi những nghệ sĩ khác và muốn người hâm mộ của mình cũng cảm thấy như vậy với Madeon.”

Tham vọng của anh lớn như thế nào trong giới nhạc pop này?

“Loại nhạc pop này, được tạo ra bởi nhiều lớp, quy trình sản xuất khá phức tạp và được sản xuất chỉn chu. Nó thông thường được tạo ra bởi một đội lớn gồm nhiều người, nên tôi nghĩ sẽ khá là vui khi làm những kiểu âm nhạc này một mình và tự thử sức với từng bước một. Tôi muốn giả vờ trở thành một nghệ sĩ viết nhạc lớn, ca sĩ, chơi đàn, kỹ sư mixing và mastering, và cuối cùng tạo ra những âm thanh pop mà tôi yêu. Khát khao bí mật của tôi là làm một bản nhạc thực sự để đời, như “September” của Earth, Wind & Fire hay “Happy” của Pharrell, những bản nhạc mà tất cả chúng ta đều quen thuộc.

Anh có thể làm ra được chiến lược cho điều đó không bởi vì nhiều nghệ sĩ nói rằng họ cũng bị ngạc nhiên vì những bản hit đó?

“Tôi không nghĩ đó là điều có thể ép buộc ra được, nhưng nếu bạn hỏi ước mơ của tôi và mục tiêu cuối cùng của tôi trong lĩnh vực này, nó sẽ là làm được như vậy. Hy vọng rằng, trên chặng đường sẽ có phép màu xảy ra và tôi có thể làm được âm nhạc mà cộng hưởng với thế giới.

Cá nhân rằng, tôi cũng không thích việc có một bản hit mà tôi không nghĩ rằng nó đủ tốt; nhạc Pop là dòng nhạc tối thượng nhất trong các thể loại nhạc.”

Có một vài ý kiến cho rằng nhạc pop dễ bị xuống cấp hơn là các dòng nhạc như cổ điển hay jazz…, anh nghĩ sao?

“Tôi không nghĩ như vậy. Tôi yêu các dòng nhạc jazz, cổ điển, nhạc nhảy, hiphop và được ảnh hưởng, nuôi dưỡng từ chúng, nhưng thứ âm nhạc quan trọng và đẹp nhất là nhạc pop. Nó không phải là thứ tầm thường. Nếu bạn nghĩ bạn có thể viết được nhạc pop dễ dàng, thì tôi chúc bạn may mắn trong việc thử viết được một bản hit.

Tôi thích việc phân tích các bài hát và cách chúng đã lay chuyển tôi. Những bản nhạc mà thực sự làm tôi rung động thường có những đặc điểm mà tôi chưa thể nào nắm bắt được. Quy trình sáng tạo của nó giống như việc đi tìm kho báu vậy!”

Bởi vì nhạc của anh không còn biểu cảm qua thanh nhạc của những người khác nữa, điều đó đã thay đổi như thế nào về mặt âm thanh của anh?

“Nó trở lại về ý tưởng trở nên hạnh phúc, trở thành Madeon và định hình danh tính của tôi. Với công việc mới này, việc giữ là chính mình rất quan trọng, nhưng tôi vẫn vui vẻ khi đón chào những nghệ sĩ khác bước vào thế giới của tôi và cho phép Madeon mới được gặp họ.”

Album mới của anh được thu ở Los Angeles nhiều hơn là ở quê nhà của anh – Nantes. Tại sao lại là ở đó?

Tôi đã chuyển sang sống tại LA vì tôi đã có một show diễn ở LA với một vài đồng nghiệp và tôi thích nó. Lúc đầu, tôi chỉ đến đó để có một vài buổi thu âm và thử nghiệm vài thứ. Sau đó tôi đã quyết định sống ở đó luôn, xây một phòng thu âm, tận hưởng không khí và sống một cuộc sống mới.

Về mặt phòng âm, tôi muốn tạo lại những gì tôi biết được từ khi làm ở nhà bố mẹ tôi. Nên tôi hướng đến việc dùng ánh sáng tự nhiên với một cái view để nhìn ra ngoài và để mọi thứ có thể dễ với đến trong tầm tay.

Rất nhiều bản nhạc của anh được tạo ra từ phần mềm, có phải hiện tại studio của anh đã được mở rộng hơn nhiều rồi không?

“Hồi còn trẻ tôi vẫn nghi ngờ về văn hóa của những cỗ máy analogue. Tôi nghĩ đó chỉ là một cái nền tảng và tôi nên tập trung vào phần mềm và các cách thức làm nhạc tân tiến hơn, tôi đã làm việc theo luồng như vậy trong một thời gian. Nhưng gần đây tôi mới nhận ra gu nhạc của tôi chuộng các phong cách thu âm truyền thống hơn.”

Thứ gì đã làm anh nhận ra điều này?

“Khi tôi làm album tôi đã đi du lịch đến một vài địa điểm đẹp để tìm cảm hứng và dùng mọi đồ đạc tôi có thể tìm được có ở phòng thu. Khi tôi ở Na-uy, một phòng thu có chiếc piano và tôi cảm thấy tôi chơi tốt hơn và khác so với khi tôi dùng chiếc keyboard MIDI kèm với thư viện Kontakt, vậy tôi nghĩ những đồ vật tương tự có thể mang đến ma thuật vào trong quá trình làm nhạc của tôi.

Chắc chắn là tôi đã trở thành người nhạy cảm hơn với tiếng của analogue synth và giờ đây tôi đang tìm kiếm sự cân bằng giữa việc dùng phần mềm và tìm chọn phần cứng phù hợp. Tôi chắc là tôi có thể tìm được âm thanh đó trong giới phần mềm, nhưng luồng làm việc đã rất khác nên tôi không nghĩ tôi sẽ phải nghĩ đến những ý tưởng cũ nữa.”

Anh đã sử dụng những synth nào?

“Tôi mua một chiếc Roland Juno-106 vì tôi đang dùng phiên bản mô phỏng của nó và nghĩ rằng chắc sẽ vui hơn khi được nghịch phiên bản thật. Tôi đang chuẩn bị nhập một chiếc về từ Nhật Bản thì thấy một chàng rất giỏi chuyên cải tiến và cách tân những thứ này ngay gần nhà, nên tôi xúc một cái mang về và giờ tôi rất yêu nó.

Tôi cũng đã tậu một chiếc Moog Model D và bắt đầu một bộ sưu tập đồ bí mật mà tôi biết một số đã được dùng trong vài album yêu thích của tôi. Đây giống như một viện bảo tàng nên tôi không cố copy hay bắt chước bất kỳ nghệ sĩ nào; thật thú vị khi được thử những thứ mà họ đã bắt đầu bằng để tôi có thể lấy cảm hứng ý tưởng của họ. Thỉnh thoảng tôi sẽ làm một bản cover cho vui, để hiểu được mọi thứ hoạt động như thế nào? Ví dụ, như Daft Punk làm nhạc thế nào?”

Món đồ cụ thể ở đây anh đang nhắc đến là gi?

“Tôi sẽ không nói ra vì đó là một bí mật. Nó có thể khá là nguy hiểm khi để lộ những thông tin đó và tôi cũng không muốn mọi người sử dụng preset vì có thể làm rẻ mạt những thứ âm thanh đó. Nhưng tôi có thể cho bạn một ít gợi ý.

Ví dụ, Daft Punk đã sử dụng chiếc DigiTech synth wah pedal trong cả album thứ ba “Human After All”. Bằng đầu óc thiên tài, sự sáng tạo và trực giác, họ đã làm toàn bộ album chỉ bằng cái pedal đó và đó chỉ là cái pedal 50$ mà không ai quan tâm gì nó cả vào thời đó. Với tôi đó là một bài học thật sự bổ ích. Công cụ tốt nhất của bạn chính là khả năng nhận ra được sự vĩ đại của một thứ gì đó khi nó ở ngay trước mắt, không phải là lúc mà cả thế giới nói cho bạn biết là nó hay. Nếu có một gear nào đó tẻ nhạt và mọi người đều ghét nhưng bạn tìm được thứ thú vị trong đó, thì hãy biến tấu đi vì đó là thứ mọi người cần!”

Liệu anh có so sánh nó với một chiếc Roland drum machine, thứ mà đúng ra không được dùng nhiều nhưng thực chất lại rất phổ biến từ ngày xưa?

“Tất nhiên, bộ Roland 808 không phải được làm ra để tạo những tiếng kick lớn và có độ ngân dài, nhưng điều này cũng được áp dụng trong giới phần mềm. Tôi nghĩ dùng một plugin mà mọi người ghét và tạo ra được những thứ mới mà người khác chưa từng làm vẫn quý giá hơn việc sở hữu một món đồ thật đắt mà ai cũng trải nghiệm rồi. Thỉnh thoảng, tôi nhắm mắt lại để chọn A/B giữa phần cứng và phần mềm và chọn thứ nào nghe tốt nhất, cho dù nó trị giá 10$ hay 10,000$. Đúng là tôi phải xử lý nhiều phần âm thanh bass để hợp với mong muốn, nhưng đó là phong cách sản xuất nhạc của tôi.”

Chúng tôi nghe nói anh chuộng sử dụng FL Studio hơn là những DAW khác?

“Tôi thành thạo hầu hết các DAW nhưng tôi nghĩ FL Studio là tiên tiến nhất. Nó bị đánh giá thấp và có những chức năng không DAW khác có thể địch được. Khi tôi dùng Ableton tôi thỉnh thoảng phải gọi điện cho bạn bè để hỏi về cách làm những thứ mà tôi thường làm trên FL, và họ nói trên Ableton không làm được. Chắc chắn tôi là một fan của FL, nhưng tôi nghĩ không ai nên đổi DAW cả một khi họ đã thành thục việc tạo ra được các ý tưởng trên đó.

Tôi cũng may mắn được quan hệ thân thiết với đội ngũ phát triển của FL, nếu tôi có rắc rối tôi chỉ cần điện cho lập trình viên và vấn đề được giải quyết ngay trong ngày. Tôi nghĩ rằng chuyện đó không xảy ra nếu tôi dùng Pro Tools [cười]. Nó như một phần mở rộng trong bộ não của tôi vậy và tôi đã dùng nó hàng giờ mỗi ngày từ khi 10 tuổi.”

Yếu tố nào FL làm anh thấy nó ưu việt hơn các đối thủ cạnh tranh?

“Một điều tôi thích là bạn có thể lập các chuỗi nơi mà mọi plugin hoạt động song song với nhau, và bạn có thể nối chúng lại một cách điên rồ. Tôi cũng thích cái cách mà MIDI, audio và automation có thể đè lên nhau hoặc sắp xếp theo một cách vô cùng đặc biệt. Điều đó gợi lại phong cách sản xuất âm nhạc ngày xưa của tôi khi mà nhạc của tôi sẽ biến chuyển giữa MIDI và audio 3 lần trong 1 bar bởi vì giao diện của FL làm nó trông gọn gàng và tự nhiên. Nói chung là tôi có thể tự do với nó.

FL còn có bộ chỉnh “audio editor” được xây sẵn trong phần mềm mà hoạt động như một plugin và bạn có thể dùng với mọi file audio. Tôi dùng nó để cắt xén, chỉnh sửa mọi thứ.”

Anh thường dùng những âm thanh lớn để phô trương phong cách âm nhạc ấn tượng của mình. Anh tập trung vào việc lồng ghép các sound với nhau hay chỉ là thêm thật nhiều hiệu ứng vào chúng?

“Tôi không nghĩ đến việc sử dụng các phương pháp mà thay vào đó tôi sẽ tạo ra không gian trong bài nhạc. Thỉnh thoảng tôi nghĩ rằng một âm thanh gốc không cần phải xử lý, tôi chỉ nghĩ đến kết quả cuối cùng và cách thức để đạt được điều đó trở nên khá rõ ràng.

Trước khi làm mỗi album tôi thường tạo ra một cái kho sample, tôi sẽ thiết kế bộ trống và âm thanh mới, thu âm trống, piano hoặc thuê nhạc sĩ guitar chơi một đoạn loop ngẫu nghiên mà không từ bất kỳ bài nhạc nào để tôi có một thư viện sample riêng. Tôi rất cẩn thận trong việc xuất ra các bản âm thanh cho tất cả những gì tôi làm kể cả khi nó tệ, để tôi có thể sử dụng cho mình.”

Vậy nên anh có một kho lớn đầy những âm thanh của Madeon?

“Đúng, vì sẽ có vài lúc tôi nhớ mang máng có một bài nhạc tôi làm một buổi sáng ba năm trước và nghĩ đó là cái snare tôi cần cho tác phẩm mới. Về khoản đó, tất cả những bài hát của tôi là hỗn hợp của hàng tá những dự án thất bại. Giống như kiểu tôi thu thập các thành phần khác nhau của nhiều bài nhạc, cho dù nó là hòa thanh, hook, tiếng trống, ca từ hoặc mastering chain. Bằng cách đó, các album có thể liên quan với nhau vì mọi thứ đều có một mục đích chung qua những âm thanh đã tạo ra từ trước và sự liên kết giữa các bài hát. Nó giống như việc có một phiên bản của tôi năm 2017 và năm 2019 và tôi được gặp con người đó trong quá khứ.”

Anh có mời những nghệ sĩ khác đến mixing và mastering không?

“Tôi luôn muốn tự mix và master mọi thứ. Tôi đã thử mời một vài người đến trong quá khứ nhưng không hài lòng với kết quả, vì tôi cảm thấy tôi sẽ truyền tải được hết tất cả những gì tôi muốn khi tự làm. Có người khác mix nhạc cho bạn cũng thật tuyệt vời nếu bạn là một người viết nhạc không thành thạo lắm về mặt kỹ thuật hoặc không chắc chắn về làm cách nào để đạt được những thứ trong đầu. Nhưng nếu bạn đã có sẵn kiến thức về việc này thì tôi nghĩ một kỹ sư về mastering cũng khó có thể tạo ra được thứ gì đó nổi bật hơn!”

(Theo Music Radar)

FOLLOW MADEON

Facebook | Instagram | Soundcloud | Twitter | Youtube | Spotify

 

No more articles